Browse Author: admin

Lý do bạn trả lời email công việc vào cuối tuần thực sự là 500 năm

Tại một điểm trong lịch sử phương Tây, thời gian đột nhiên trở nên có giá trị hơn – và đó là lỗi của nước Anh.
Đó là lý do những người phương Tây cảm thấy áp lực như vậy ngày hôm nay về năng suất. Đó là lý do tại sao chúng tôi đưa điện thoại của mình đến lớp học yoga, chúng tôi ăn ở bàn làm việc của chúng tôi, chúng tôi xếp hàng tuần với buổi biểu diễn sau buổi biểu diễn và không quan tâm đến “ngày cuối tuần”.

Trước khi nước Anh phát minh ra hệ thống thương mại vào thế kỷ 15, việc quản lý và thẩm định về thời gian có quy mô rất cá nhân hơn. Nền kinh tế nông nghiệp có nghĩa là các thị trấn nhỏ đã trao đổi hàng hóa và dịch vụ đồng bộ với các mùa và bị hạn chế bởi các nguồn lực siêu địa phương. Thời gian và năng suất đã giảm xuống và chảy theo nhịp tự nhiên.

Nhưng với chủ nghĩa thương mại, một trong những lý thuyết kinh tế quan trọng đầu tiên, làm thế nào một người dành thời gian của mình trực tiếp tương ứng với sự giàu có của cả nước. Theo các nhà kinh tế thời bấy giờ, bất kỳ hình thức thức tỉnh nào đã đánh mất một khoản tiền của đất nước – và đã được tuyên bố là một tội nặng. Thời gian giữa mùa và mùa thu hoạch, khoảng thời gian giữa bất cứ thứ gì, nếu không dùng trong công việc, đơn giản chỉ là một sự lãng phí.

Đó là sự ra đời của “thời gian là tiền bạc”, nhưng chỉ có một số ít được chọn hưởng lợi.

Chủ nghĩa bán hàng là một hình thức chủ nghĩa đế quốc về kinh tế, một phương tiện tối đa hóa sự giàu có của quốc gia và do đó tăng cường quyền lực của nó trong mối quan hệ với các quốc gia khác. Học giả người Đức Philipp Wilhelm von Hornick đã tóm tắt các nguyên lý ở Áo về tất cả, nếu chỉ có bà Will, xuất bản năm 1684. Theo ông, mọi mảnh đất của một quốc gia phải được sử dụng cho nông nghiệp, khai thác mỏ, hoặc sản xuất hàng hoá. Các hàng hoá kết quả sẽ được chế biến chứ không phải là trái hoặc giao dịch làm nguyên liệu. Nhập khẩu chủ yếu bị cấm, và nếu cần thiết, sẽ được giao dịch, không được đổi lấy vàng hoặc bạc, mà sẽ bị lưu giữ trong tiểu bang. Cuối cùng, một dân số lớn sẽ được liên tục sử dụng trong sản xuất và sản xuất hàng hoá.

Trong trường hợp của Anh, dân số lớn đã cố ý bao gồm những người lao động nghèo. Và không giống như những lời hứa về chủ nghĩa tư bản sau đó, sự di chuyển trở lên không phải là một lựa chọn. Năm 1732, nhà triết học người Hà Lan, nhà trào phúng, và sau đó là cư dân London Bernard Mandeville đã viết rất nhiều bài:

“Trong một quốc gia tự do nơi mà những người Nô lệ không được phép, Kho báu đáng sợ nhất bao gồm trong vô số Người nghèo khổ … Vì họ nên tránh khỏi đói khát, vì vậy họ sẽ không nhận được gì đáng để cứu vãn … Đó là lợi ích của tất cả các quốc gia giàu có , Phần lớn người nghèo hầu như không bao giờ được nhàn rỗi, và thường xuyên chi tiêu những gì họ có được … Để làm cho xã hội hạnh phúc và mọi người dễ dàng trong các hoàn cảnh có ý nghĩa nhất, điều cần thiết là số lượng lớn của họ nên được Dốt nát cũng như người nghèo . “

Lý thuyết về chủ nghĩa thương mãi là nếu dân số nghèo được phép phát triển về số lượng nhưng mức lương của họ vẫn ở mức thấp thì sẽ không có thời gian để tiêu dùng cả hai nguồn lực vật chất hoặc thời gian, cả hai đều dành cho những người giàu có. Trong khi đó, đất nước này sẽ phát triển phong phú hơn.

Không chỉ nước Anh khăng khăng rằng “đau khổ là điều trị” cho người nghèo, nếu không sẽ tự nhiên chuyển thành lười biếng và lười biếng, nhưng cũng có nghĩa là mức lương cao hơn sẽ dẫn tới Để phó, say rượu, và không chính đáng (nói cách khác, unsanctioned thời gian miễn phí). Năm 1771 nhà văn kinh tế Arthur Young khẳng định, “Mọi người trừ một thằng ngốc biết rằng các tầng lớp thấp hơn phải được giữ kín hoặc họ sẽ không bao giờ siêng năng”.

Edgar Furniss tuyên bố Edgar Furniss tuyên bố vị trí của người lao động trong một hệ thống chủ nghĩa quốc gia (1920). Chủ nghĩa bán công là “công dụng của đói nghèo”.

Nhiều thời gian làm việc có nghĩa là có nhiều tiền hơn, nhưng người nghèo không bao giờ nhìn thấy cổ tức.
Đối với Anh và các nước xung quanh trong suốt thời kỳ này, chủ nghĩa thương mãi được coi là một trò chơi không có tổng cộng, trong đó lợi ích của một bang có nghĩa là mất mát ở một quốc gia khác. Nếu một quốc gia sản xuất nhiều hàng hoá hơn và có dân số lớn hơn đang làm việc liên tục, nhà nước đó đã “chiến thắng”. Do đó, thời gian dành cho công việc tương đối liên quan đến số tiền kiếm được.

Bằng cách tạo ra sự lo lắng mãnh liệt xung quanh thời gian, các quốc gia thương mại phương Tây khẳng định thời gian có thể là đáng xấu hổ đã bị đánh mập và nhất thiết làm hại quê hương của họ.

Rồi nhà thờ cũng tham gia.

Theo tác giả Eluned Summers-Bremner, các nhân vật tôn giáo đầu tiên đã phản đối các tuyên bố của chính quyền Tây phương về quản lý thời gian: “Cho vay và vay tiền đã làm thay đổi giá trị thời gian mà chỉ có Thiên Chúa, tạo ra nó mới có thể mang lại ý nghĩa.” Chỉ có những người lao động chống lại những đòi hỏi của một tuần làm việc không ngừng, họ cũng cảm thấy tội lỗi và sợ hãi tinh thần – lạm dụng thời gian sẽ đe dọa “số mệnh của họ trong thế giới bên kia”?

Điều mà nhà thờ và nền kinh tế thương mại có thể đồng ý là số phận của linh hồn người nghèo – hay cụ thể hơn là làm thế nào để thu được lợi ích từ sự sợ hãi tập thể.

Trong một cuộc họp của nghị viện Pháp vào năm 1576, tầng lớp quý tộc, thương gia và giáo sĩ tụ tập với nhau để thúc giục vấn đề lao động cưỡng bức. Người thứ hai cho rằng “không có người nhàn rỗi … được cho phép hay dung thứ.” Nobles yêu cầu rằng “những kẻ ăn xin và những kẻ ăn mày khoẻ mạnh” bị đánh đập nếu họ từ chối làm việc.
Không bao giờ quan tâm đến sự nhàn rỗi của chính họ, điều đó, do sự may mắn mù quáng và tầng lớp quý tộc, tất cả mọi người ở bảng đó có thể dễ dàng mua được.

Thương thuyết cuối cùng đã biến mất vào cuối thế kỷ 18, được thay thế bằng một nền kinh tế thị trường tự do được bảo trợ bởi Adam Smith. Hiểu biết sau này, việc buôn bán sự giàu có cho một “điểm bán hàng” trong tương lai có nghĩa là các nước thực sự làm giảm giá trị của vàng thỏi. Chưa kể, bằng cách đóng cửa biên giới với hàng nhập khẩu và hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp nước ngoài, bất kỳ quốc gia nào thực hiện chủ nghĩa thương mại chỉ để lại những hàng hóa thô (và khí hậu Anh không bao giờ có lợi cho việc sản xuất rượu vang). Chủ nghĩa buôn bán bây giờ được coi là một cách tiếp cận kinh tế sơ khai.

Nhưng những ảnh hưởng của sự cưỡng ép thi hành vẫn còn nán lại. Nhà tư tưởng triết gia và khai sáng John Locke lập luận trong Điều khoản thứ hai của ông về năm 1689 rằng sự giàu có của thế giới được tạo ra bởi lao động của con người và rằng người dân có quyền được đưa đất nếu họ lao động vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của nó. Nói chung, những người thuộc địa phận New World, những người theo Đạo Tin Lành, những người định cư ở New World, những người tuyên bố sự giàu có có thể đạt được bằng công việc khó khăn, và đơn giản chỉ là hành động tàn phá một người nghèo nhất.

Nhà kinh tế học người Anh Charles Hall năm 1805 nói rằng, giải trí ở một người nghèo được nghĩ là khá khác với người giàu, và đi theo một cái tên khác, rõ ràng là không trớ trêu. “Ở người nghèo, nó được gọi là trì trệ, nguyên nhân của sự nghịch ngợm.”

Cùng một ý tưởng thấm nhập vào Mỹ ngày nay. Không cần phải nhìn xa hơn nền kinh tế biểu diễn, một hệ thống do các tầng lớp tinh hoa Silicon Valley sáng tạo ra cho bất cứ ai kiểm soát công việc của mình, vào thời của mình. Trên thực tế, các hợp đồng biểu diễn không thu hút được các đối tượng bị ràng buộc về tiền mặt của đất nước này – như những nhà thầu độc lập mà không có các lợi ích về sức khoẻ, kế hoạch nghỉ hưu, quyền hợp nhất, vv … Trên hết, các hợp đồng biểu diễn với những lo lắng hiện tại của đất nước xung quanh giải trí, Điền thời gian với sự hối hả bên cạnh hiệu quả, cho dù chúng ta “cần” tiền mặt hay không. Đơn giản chỉ cần nhìn bận rộn là tiền tệ trong chính nó, một cách để lẩn tránh sự kỳ thị đi kèm với sự nhàn rỗi, đặc biệt là đối với người nghèo và giai cấp công nhân.

Trong thời gian chờ đợi, khoảng cách giữa người nghèo và tầng lớp trung lưu là bao nhiêu. Trong cuốn sách mới của ông, Nhà kinh tế học Peter Temin của MIT, ông Peter Temin cho rằng Hoa Kỳ thực sự đang tiến tới một hệ thống hai tầng: một tầng lớp thượng lưu nhỏ hơn, chủ yếu là người da trắng kiểm soát sự giàu có và quyền lực, và một tầng lớp thấp hơn bao gồm rất nhiều người có màu sắc .

Các danh mục có thể bạn nên xem:

Giới thiệu về Holloway House Publishing – Nhà xuất bản văn học

Mặc dù đã ra đời cách đây chưa lâu nhưng trong nhiều năm qua, nhà xuất bản văn học Holloway House Publishing đã luôn đồng hành cùng những thăng trầm của Tổ quốc, mang đến những thông tin hữu ích, nguồn kiến thức bất tận cho nhân loại và phong trào văn nghệ của cả nước.

1. Chức năng – Nhiệm vụ

Xuất bản các tác phẩm văn học có giá trị cỏ đại đến hiện đại trong nước và ngoài nước, phục vụ cho đội ngũ cán bộ hoạt đồng trong lĩnh vực nghiên cứu, sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật cùng đông đảo các tầng lớp bạn đọc nhằm thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận tri thức, nâng cao văn hóa và làm phong phú hơn đời sống tinh thần, góp phần hình thành phát triển nhân cách con người mới, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

+ Tuyên truyền đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, pháp luật và nhà nước, phản ánh chân thực, sinh động công cuộc xây dựng đất nước và đời sống nhân dân thông qua các áng văn thơ có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật, có tư tưởng lành mạnh và giàu tính nhân văn của nền văn học dân tộc.

+ Xuất bản các bộ sách: Tổng hợp, toàn tập, tuyển tập theo hệ thống chủ đề, tác giả hoặc thời kỳ văn học.

+ Tìm tòi, phát hiện và giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm thực sự có giá trị, những tác giả tài năng của văn học Việt Nam đương đại, nhằm bổ sung lực lượng cho đội ngũ sáng tác của nền văn học dân tộc.

+ Xuất bản các loại lịch, văn hóa phẩm phục vụ cho nhiều tầng lớp khách hàng

+ Quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới trong lĩnh vực xuất bản, nghiên cứu, trao đổi và giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật nhằm quảng bá, giới thiệu những tác phẩm văn học tiêu biểu, có giá trị về nội dung nghệ thuật của Việt Nam với độc giá khắp các quốc gia, đồng thời chọn lựa, giới thiệu đến bạn đọc trong nước những tinh hoa của văn chương thế giới.

2. Cơ cấu tổ chức

Tìm tòi và giới thiệu những tuyệt tác giá trị của văn học trong nước và trên thế giới luôn là mục tiêu hàng đầu của nhà xuất bản văn học. Tuy vậy, sự tìm kiếm đó luôn dựa trên một tiêu chí chọn lựa hết sức khắt khe để giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật.

Giới sáng tác từ lâu vẫn coi nhà xuất bản văn họa là một thương hiệu uy tín để họ công bố tác phẩm và khẳng định tên tuổi. Đó cũng là nhiệm vụ quan trọng của chúng tôi, phát triển, bồi dưỡng và khuyến khích những tài năng văn học mới cho đất nước. Với dòng văn học nước ngoài đương đại thì sự thẩm định dường như còn kỹ lưỡng hơn nhằm mang đến cho độc giả những tác phẩm đặc sắc của các trào lưu, khuynh hướng sáng tác phù hợp với đời sống xã hội, thuần phong mỹ tục qua những bài dịch ấn tượng. Bao gồm thể loại văn, thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, lý luận phê bình, nghiên cứu,… Nhiều tác phẩm sau khi xuất bản đã thu hút được đông đảo độc giả, trở thành một sự kiện lớn của văn học nghệ thuật trong cả nước.

3. Định hướng của nhà xuất bản văn học trong thời gian tới

Bám sát và thực hiện đúng chủ trương về văn hóa – văn nghệ của nhà nước. Tiếp tục phấn đấu, không ngừng nâng cao chất lượng nội dung, hình thức của xuất bản ấn phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân và trình độ phát triển của đất nước.

4. Về xuất bản

Thông qua các tác phẩm văn học có giá trị về nội dung và nghệ thuật, tuyên truyền chủ trương, chinh sách và đường lối của Đảng, góp phần vào sự nghiệp dân trí, giáo dục tư tưởng, bối đắp tình cảm nhân văn và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về tri thức, giải trí, nâng cao đời sống tinh thần cho toàn thể nhân dân.

Nâng cao chất lượng đội ngũ biên tập viên, không ngừng tìm tòi và giới thiệu đến quý độc giả các tác phẩm tinh hoa của văn học Việt Nam cũng như các nước trên thế giới.

Hoàn thành tổng kết các di sản văn học mà các thế hệ nhà văn trong thế kỷ trước đã sản sinh ra hiện còn tản mạn, chưa tập trung được trong di sản văn học dân tộc. Trước mắt, nhà xuất bản văn học sớm hoàn thành các bộ truyện theo chủ đề, để tài, công bố lại ở mức hoàn chỉnh cao nhất các tác phẩm đã được xuất bản về nội dung, nghệ thuật, xuất sắc của Việt Nam và thế giới được bạn đọc hâm mộ.

5. Về tổ chức – đào tạo

Xây dựng một đội ngũ lãnh đạo mới, trẻ, có tri thức đủ tài, đức để thích ứng với nhiệm vụ mới. Đào tạo và không ngừng nâng cao trình đô của đội ngũ biên tập viên năng động, có khả năng hoàn thành tốt các công việc biên soạn, biên dịch, phê bình văn học.

Nhà xuất bản văn học tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác về xuất bản, giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới, nhanh chóng tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ để kịp thời hòa nhập, ứng dụng các loại hình xuất bản tiên tiến, hiện đại trên thế giới.

Đọc thêm: